Kiểm soát bệnh giun truyền qua đất và bệnh sán máng dựa trên dữ liệu giám sát

Tổng hợp chuyên môn cho cán bộ y tế và quản lý chương trình, dựa trên khung giám sát và đánh giá WHO năm 2024, hướng dẫn can thiệp và cập nhật tiêu chí thẩm định STH năm 2026. Kiểm soát bệnh cần kết hợp điều trị đúng nhóm nguy cơ, theo dõi tỷ lệ và cường độ nhiễm, nước sạch và vệ sinh môi trường [1 – 4].
1. Gánh nặng bệnh tật và cơ sở khoa học của can thiệp
Bệnh giun truyền qua đất (STH) gồm nhiễm giun đũa, giun tóc và giun móc được đề cập trong bài; bệnh sán máng (SCH) do các loài Schistosoma gây ra. Nhiễm cường độ cao có thể gây thiếu máu, suy dinh dưỡng và tổn thương cơ quan. Số lượng giun đũa nhiều có thể gây tắc ruột; nhiễm giun tóc nặng có thể gây sa trực tràng. Sán máng có thể gây xơ hóa gan hoặc một số loài sán ký sinh ở đường niệu có thể gây tổn thương đường tiết niệu – sinh dục; S. haematobium liên quan nguy cơ ung thư bàng quang. Điều trị sớm giúp hạn chế bệnh lý, nhưng tổn thương mạn tính có thể không hồi phục hoàn toàn [1, 5, 6].
1.1. Mối liên quan giữa cường độ nhiễm và mức độ bệnh lý
Nguy cơ bệnh lý thường tăng theo cường độ nhiễm, không chỉ phụ thuộc có nhiễm hay không. Chỉ số số trứng hỗ trợ đánh giá gánh nặng nhiễm, nhưng không phản ánh đầy đủ mức độ tổn thương cơ quan ở từng người bệnh.

  • Nhiễm cường độ trung bình và nặng là các chỉ số quan trọng trong đánh giá chương trình STH. Với SCH, tỷ lệ nhiễm cường độ nặng là một chỉ số đánh giá loại trừ như một vấn đề sức khỏe cộng đồng.
  • Nhiễm nhẹ vẫn có thể kèm bệnh lý, nhất là khi tổn thương đã tích lũy qua thời gian. Cường độ nhiễm hiện tại thấp không loại trừ biến chứng mạn tính.

Trong khảo sát, WHO sử dụng số trứng trên mỗi gam phân (epg) hoặc số trứng trên 10 mL nước tiểu để phân loại cường độ nhiễm. Cần ghi kỹ thuật, số mẫu và thời điểm đọc vì chúng ảnh hưởng kết quả [1].

Bảng 1. Ngưỡng phân loại cường độ nhiễm STH và SCH

Loài ký sinh trùng Nhẹ Trung bình Nặng
Ascaris lumbricoides 1 – 4.999 epg 5.000 – 49.999 epg ≥50.000 epg
Trichuris trichiura 1 – 999 epg 1.000 – 9.999 epg ≥10.000 epg
Giun móc (Hookworms) 1 – 1.999 epg 2.000 – 3.999 epg ≥4.000 epg
S. mansoni / S. japonicum 1 – 99 epg 100 – 399 epg ≥400 epg
S. haematobium 1 – 49 trứng/10 mL nước tiểu, không tiểu máu đại thể — ≥50 trứng/10 mL nước tiểu hoặc tiểu máu đại thể

epg: số trứng trên mỗi gam phân. Bảng áp dụng cho kỹ thuật đếm trứng thích hợp; các loài Schistosoma đường ruột khác cần đối chiếu hướng dẫn tương ứng. Với S. haematobium, tiêu chí nhiễm nặng trong phân loại WHO còn bao gồm tiểu máu đại thể. Không quy đổi trực tiếp giá trị PCR hoặc kháng nguyên sang epg.
2. Nhóm nguy cơ ưu tiên can thiệp
STH: nhóm được WHO khuyến cáo can thiệp gồm trẻ nhỏ 12 – 23 tháng, trẻ trước tuổi đi học và trẻ tuổi đi học, kể cả trẻ không đến trường; trẻ em gái vị thành niên và phụ nữ tuổi sinh sản ở vùng đủ tiêu chí. Nhóm nghề nghiệp phơi nhiễm cao cần được đánh giá theo dịch tễ địa phương. Trẻ 12 – 23 tháng và phụ nữ mang thai có yêu cầu riêng về thuốc và thời điểm dùng [2, 7, 8].
SCH: tại cộng đồng lưu hành đạt ngưỡng can thiệp, WHO khuyến cáo tiếp cận người từ 2 tuổi trở lên, bao gồm người lớn, phụ nữ mang thai sau ba tháng đầu và phụ nữ cho con bú. Nhóm thường xuyên tiếp xúc nước ngọt tại vùng lưu hành cần được chú ý. Điều trị cá thể ngoài phạm vi chiến dịch do cơ sở y tế đánh giá [3].
Trường học là kênh quan trọng để tiếp cận trẻ, nhưng không thay thế việc tiếp cận trẻ không đi học và các nhóm khác đủ điều kiện. Phân bổ nguồn lực theo nguy cơ và mục tiêu chương trình, không mặc định chỉ điều trị trẻ đang đi học.

3. Mục tiêu loại trừ như một vấn đề sức khỏe cộng đồng

Bảng 2. Phân biệt chỉ số EPHP và cắt đứt lây truyền

Bệnh Mốc chương trình Chỉ số và diễn giải
STH EPHP ở trẻ em Theo WHO 2026: ở trẻ 10 – 14 tuổi tại mọi IU lưu hành, nhiễm bất kỳ <20% và nhiễm trung bình – nặng <2%; đáp ứng yêu cầu KTC và quy trình thẩm định [4].
SCH EPHP và cắt đứt lây truyền là hai mốc riêng EPHP: tỷ lệ nhiễm nặng <1% theo khung chương trình. Cắt đứt lây truyền cần bằng chứng và quy trình xác minh riêng [3].

Loại trừ bệnh như một vấn đề sức khỏe cộng đồng (EPHP) không đồng nghĩa không còn người nhiễm hoặc không còn lây truyền. Các chỉ tiêu toàn cầu trong Lộ trình 2021 – 2030 là mục tiêu chương trình, không phải kết quả đã đạt. Khi báo cáo tiến độ cần ghi năm dữ liệu và phân biệt số người với số lượt điều trị.
4. Hóa trị liệu dự phòng (Preventive Chemotherapy – PC)
4.1. Nguyên tắc chung
Hóa trị liệu dự phòng (PC) là dùng thuốc định kỳ cho quần thể đủ điều kiện ở khu vực có nguy cơ, thường không cần xét nghiệm riêng từng người trước mỗi vòng. Thuốc chủ yếu trong các chương trình được đề cập là albendazole hoặc mebendazole đối với STH và praziquantel đối với SCH. PC không thay thế khám và điều trị bệnh nhân có triệu chứng hoặc biến chứng [2, 3].

Lựa chọn thuốc, dạng bào chế và cách dùng phải theo hướng dẫn chương trình và đặc điểm nhóm đích. Albendazole hoặc mebendazole liều đơn được sử dụng trong PC cho STH; albendazole dùng liều 200 mg cho trẻ dưới 24 tháng thuộc nhóm đủ điều kiện, thay vì mặc định 400 mg. Cần hướng dẫn nghiền/nhai thuốc phù hợp để giảm nguy cơ nghẹn. Không tự bổ sung ivermectin chỉ vì giun tóc chiếm ưu thế; phác đồ phối hợp hoặc kiểm soát giun lươn cần hướng dẫn riêng [2, 7].

Liều PC tham chiếu ở nhóm đủ tuổi và đủ điều kiện: albendazole 400 mg hoặc mebendazole 500 mg liều đơn đối với STH; praziquantel 40 mg/kg đối với SCH. Liều dùng, dạng thuốc và tiêu chí loại trừ phải được đội ngũ y tế kiểm tra. Không áp dụng một số viên trung bình cho mọi trẻ hoặc người lớn; dự trù thuốc theo quy mô nhóm đích và liều theo cân nặng hoặc thước liều đã được chấp thuận. PC đối với STH tập trung nhóm nguy cơ theo hướng dẫn; đối với SCH tiếp cận cộng đồng đủ điều kiện ở vùng lưu hành, không phải toàn dân ở mọi địa bàn [2, 3].

4.2. Tần suất PC theo tỷ lệ lưu hành tại đánh giá cơ sở

Bảng 3. Ngưỡng tỷ lệ lưu hành để triển khai PC (đánh giá ban đầu)

Bệnh Tỷ lệ lưu hành Khuyến cáo can thiệp
STH <20% Chưa chỉ định PC thường quy theo ngưỡng khởi động; khám và điều trị cá thể
STH ≥20% và <50% PC 1 lần/năm, tất cả nhóm nguy cơ
STH ≥50% PC 2 lần/năm, tất cả nhóm nguy cơ
SCH <10% Xét nghiệm – điều trị; nơi từng PC cân nhắc tiếp tục hoặc giảm theo lịch sử và giám sát
SCH ≥10% và <50% PC 1 lần/năm, toàn bộ dân số từ 2 tuổi trở lên
SCH ≥50% PC hằng năm cho người đủ điều kiện từ 2 tuổi; cân nhắc hai vòng khi đủ nguồn lực hoặc đáp ứng chưa đạt

Với SCH có tỷ lệ nền ≥50%, khung WHO 2024 cho phép cân nhắc hai vòng/năm khi đủ nguồn lực và đánh giá sớm. Hướng dẫn WHO 2022 còn nhấn mạnh đáp ứng sau can thiệp và độ bao phủ ≥75% khi cân nhắc tăng tần suất. Tỷ lệ nền cao không thay thế đánh giá chất lượng triển khai [1, 3].

Hình 1. Hoá trị liệu dự phòng (PC) hay xổ giun định kỳ cho trẻ trong độ tuổi đi học

4.3. Tần suất PC sau đánh giá tác động (thường thực hiện năm thứ 5)

Bảng 4. Tỷ lệ lưu hành và tần suất PC khuyến nghị sau đánh giá tác động

Bệnh Tỷ lệ lưu hành Tần suất PC khuyến nghị
STH <2% Theo sự kiện/nhóm đủ điều kiện; cân nhắc ngừng PC thường quy và tiếp tục giám sát
STH ≥2% và <10% 2 năm/lần, tập trung vào nhóm nguy cơ
STH ≥10% và <20% 1 lần/năm, tập trung vào nhóm nguy cơ
STH ≥20% 2 lần/năm, tập trung vào nhóm nguy cơ
SCH <10% Duy trì hoặc giảm theo lịch sử, nguy cơ và giám sát; không tự động ngừng
SCH ≥10% Thông thường 1 lần/năm; cân nhắc tăng khi điểm nóng hoặc tỷ lệ cao
SCH ≥50% Cân nhắc 2 lần/năm khi đủ nguồn lực; đánh giá đáp ứng

Các ngưỡng trong Bảng 4 áp dụng sau nhiều năm can thiệp và đánh giá tác động, không thay thế ngưỡng khởi động trong Bảng 3. Tỷ lệ nhiễm bất kỳ dùng để chọn tần suất khác với tỷ lệ nhiễm trung bình – nặng dùng đánh giá EPHP. Quyết định cần dựa trên nhóm khảo sát, chất lượng số liệu và lịch sử can thiệp [1, 4].

4.4. Tiếp cận nhóm nguy cơ và điều phối

Có thể tiếp cận trẻ nhỏ qua dịch vụ sức khỏe bà mẹ – trẻ em, trẻ tuổi đi học qua trường học và cộng đồng, phụ nữ qua dịch vụ chăm sóc phù hợp. Với SCH, phân phối tại cộng đồng giúp tiếp cận người lớn và trẻ không đến trường. Cần phối hợp liên ngành, tránh bỏ sót hoặc cấp thuốc trùng. Phụ nữ mang thai trong PC STH chỉ được đưa vào khi đủ tiêu chí: sau ba tháng đầu, tỷ lệ giun móc và/hoặc giun tóc ở phụ nữ mang thai ≥20% và tỷ lệ thiếu máu ở nhóm này ≥40% [8].

5. Can thiệp bổ trợ: WASH, kiểm soát ốc, One Health

5.1. Nước sạch, vệ sinh và vệ sinh cá nhân (WASH)

Cải thiện nước sạch, vệ sinh và vệ sinh cá nhân (WASH) giúp giảm ô nhiễm và phơi nhiễm, qua đó hạn chế tái nhiễm. Với STH, cần xử lý phân và giảm tiếp xúc đất nhiễm; với SCH, cần giảm ô nhiễm nước và tiếp xúc nguồn nước có khả năng lây truyền. Không khẳng định nguồn lây chỉ từ chất thải người vì một số loài sán máng có ổ chứa động vật. Ngành y tế cần phối hợp với cấp nước, môi trường, thú y và chính quyền địa phương.

Bảng 5. Chỉ số WASH cần theo dõi tại địa bàn can thiệp

Chỉ số Định nghĩa Cách sử dụng chỉ số
Cấp nước Dịch vụ nước uống cơ bản: nguồn cải thiện, thời gian lấy nước khứ hồi không quá 30 phút; mức quản lý an toàn cần tiêu chí bổ sung. Theo mục tiêu quốc gia/địa phương và mức dịch vụ JMP
Vệ sinh Vệ sinh cơ bản: công trình cải thiện, không dùng chung hộ khác; mức quản lý an toàn cần xử lý chất thải an toàn. Theo mục tiêu quốc gia/địa phương và mức dịch vụ JMP
Vệ sinh Tỷ lệ dân số phóng uế bừa bãi; theo dõi để giảm về 0. Theo mục tiêu quốc gia/địa phương và mức dịch vụ JMP
Vệ sinh cá nhân Tỷ lệ hộ có điểm rửa tay với xà phòng và nước tại thời điểm khảo sát. Theo mục tiêu quốc gia/địa phương và mức dịch vụ JMP

5.2. Kiểm soát vật chủ trung gian (ốc) đối với SCH

Kiểm soát ốc là biện pháp bổ trợ trong SCH, ưu tiên nơi lây truyền dai dẳng hoặc cần tiến tới cắt đứt lây truyền. Lựa chọn phương pháp dựa trên loài ốc, sinh cảnh và đánh giá tác động môi trường; không triển khai diệt ốc hóa học đại trà khi chưa có kế hoạch kỹ thuật. Giám sát gồm loài và phân bố ốc, nhiễm ở ốc, điểm tiếp xúc nước và nhiễm ở người [3].

5.3. Tiếp cận “Một sức khỏe” (One Health)

Với các loài sán máng có ổ chứa động vật, đặc biệt S. japonicum, cần phối hợp y tế – thú y – môi trường. Vai trò từng vật chủ thay đổi theo địa bàn; không khẳng định động vật luôn là nguồn duy trì chủ yếu nếu chưa có dữ liệu. Can thiệp cần đồng thời xem xét người, vật chủ trung gian và nguồn nước [3, 6].

6. Giám sát theo các giai đoạn của chương trình

Giai đoạn Khoảng thời gian tham khảo Nội dung chính
Khởi đầu Năm 1 – 2 Thu thập dữ liệu cơ sở; thí điểm PC trong phạm vi giới hạn; làm quen quy trình quản lý
Phát triển Năm 3 – 4 Mở rộng PC đến toàn bộ khu vực dịch tễ cần điều trị; đạt độ bao phủ hiệu quả ≥75% ở pre-SAC/SAC
Trưởng thành Năm 5 – 9 Phân phối diện rộng với độ bao phủ hiệu quả; thực hiện đánh giá tác động; có thể kéo dài nếu tỷ lệ lưu hành nền còn ở rất cao
Duy trì Đang tiếp diễn Sau EPHP; giảm tần suất PC; giám sát ngăn tái bùng phát

Tiến độ có thể khác nhau giữa các đơn vị triển khai. Các khoảng năm trong bảng là khung lập kế hoạch tham khảo, không phải thời hạn bắt buộc hoặc căn cứ tự động công nhận EPHP. Cần đánh giá chất lượng và độ bao phủ trước khi thay đổi cường độ can thiệp.

Hình 2. Tóm tắt bốn giai đoạn của chương trình

7. Kỹ thuật chẩn đoán

Kato – Katz được dùng để đếm trứng STH và sán máng đường ruột; lọc nước tiểu phục vụ sán máng đường tiết niệu. Các phương pháp này liên quan trực tiếp đến ngưỡng đếm trứng trong Bảng 1. Độ nhạy giảm khi nhiễm nhẹ; số mẫu, số lam, bảo quản và thời gian đọc, đặc biệt với trứng giun móc, cần được chuẩn hóa. Kato – Katz không phải phương pháp phù hợp để loại trừ mọi nhiễm giun lươn [1, 5].

Que thử tiểu máu và xét nghiệm kháng nguyên có thể hỗ trợ giám sát trong bối cảnh phù hợp. POC-CCA chủ yếu được dùng cho S. mansoni; WHO 2022 xem tỷ lệ dương tính 30% bằng POC-CCA tương đương ngưỡng 10% bằng Kato – Katz cho quyết định PC. Không áp ngưỡng 10% cho mọi kỹ thuật, cũng không coi bằng chứng ốc vật chủ là xét nghiệm xác nhận nhiễm của một người. Quy trình khảo sát phải xác định cách xử lý kết quả vết và sự khác biệt kỹ thuật [3].

Hình 3. Nhân viên khoa Ký sinh trùng – Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng TP.HCM thực hiện kĩ thuật Kato Katz tại địa phương.

8. Khảo sát dịch tễ học: cơ sở và tác động

8.1. Đơn vị triển khai (Implementing Unit – IU)

Đơn vị triển khai (IU) là địa bàn chương trình dùng để lập kế hoạch và quyết định can thiệp dựa trên dữ liệu; có thể là đơn vị hành chính hoặc đơn vị dịch tễ thích hợp. Khi địa giới thay đổi, cần nối dữ liệu cũ – mới và đánh giá tính đồng nhất dịch tễ, không mặc định IU chuyển từ huyện sang xã. Với SCH có tính khu trú theo điểm nước, có thể cần đánh giá dưới cấp IU.

8.2. Một số phương pháp khảo sát chính:

Lấy mẫu phân tầng: phù hợp khảo sát cơ sở khi ít thông tin dịch tễ; đơn vị đánh giá là tầng sinh thái.

  • Khảo sát theo cụm (cluster survey): phương pháp chuẩn hóa truyền thống của WHO cho cả khảo sát cơ sở lẫn đánh giá tác động, ở cấp IU.
  • Lấy mẫu đảm bảo chất lượng theo lô (LQAS): nhanh, tiết kiệm chi phí, phù hợp xác định vượt/không vượt ngưỡng can thiệp; cần điều chỉnh khi dùng cho thẩm định EPHP.
  • Giám sát tại điểm trọng điểm (sentinel site): theo dõi xu hướng và phát hiện cảnh báo, hỗ trợ quyết định điều tra thêm. Kết quả một điểm không tự đại diện cho toàn IU nếu thiết kế không bảo đảm tính đại diện.
  • Thống kê địa lý dựa trên mô hình: hỗ trợ ước lượng phân bố không gian nhưng phụ thuộc dữ liệu, giả định và kiểm định mô hình; không mặc định luôn chính xác hơn mọi thiết kế khảo sát khác.
  • Đánh giá thực hành và chính xác sán máng (SPPA): một phương án khảo sát cần áp dụng theo tài liệu kỹ thuật và mục tiêu quyết định; không dùng tên phương pháp thay cho tính cỡ mẫu.
  • Tích hợp với khảo sát khác: ví dụ lồng ghép với Khảo sát Đánh giá Truyền bệnh (TAS) của giun chỉ bạch huyết.

Có thể phân tầng theo sinh thái và dùng dữ liệu bổ sung để giảm khối lượng khảo sát, nhưng ngoại suy giữa IU hoặc cộng đồng phải có căn cứ và lượng hóa bất định. Không giả định các làng cách nguồn nước trong cùng bán kính 5 km luôn có mức phơi nhiễm tương đương.

8.3. Quần thể mục tiêu khảo sát

Nhóm tuổi khảo sát phải theo mục đích và hướng dẫn áp dụng. Thẩm định EPHP STH theo WHO 2026 sử dụng trẻ 10 – 14 tuổi. Khảo sát ở trẻ không phản ánh đầy đủ gánh nặng giun móc tại người lớn hoặc các nhóm nghề nghiệp; cần dữ liệu bổ sung khi ra quyết định cho những nhóm này [4].

8.4. Thời điểm khảo sát so với đợt phân phối PC

Khảo sát tác động nên thực hiện trước vòng PC tiếp theo và ghi rõ khoảng cách từ lần điều trị gần nhất để hạn chế ảnh hưởng ngắn hạn của thuốc. Với chương trình một vòng/năm, khung 2024 đề xuất khảo sát ít nhất 6 tháng sau vòng trước; với hai vòng/năm, chọn thời điểm gần vòng tiếp theo theo đề cương. Không nhầm khảo sát tác động chương trình với đánh giá hiệu quả thuốc ngay sau điều trị [1].

9. Xác định và quản lý điểm nóng (hotspot) SCH

Điểm nóng dai dẳng SCH được nhận diện khi tỷ lệ nhiễm giảm tương đối dưới một phần ba sau khoảng 2 năm PC hằng năm, trong bối cảnh tỷ lệ nền ≥10% và độ bao phủ đủ (≥75%). Trước kết luận cần kiểm tra khả năng so sánh hai khảo sát và chất lượng triển khai [3].

Dấu hiệu cần điều tra gồm triệu chứng gợi ý, tiếp xúc nước ngọt thường xuyên, điều kiện vệ sinh kém, dữ liệu lây truyền trước đó và nhóm dân cư bị bỏ sót. Loài ốc liên quan phụ thuộc loài sán máng; Biomphalaria và Bulinus không đại diện cho mọi loài ốc trung gian. Khoảng cách đến điểm nước chỉ là một yếu tố nguy cơ, không phải tiêu chí xác nhận.

Ví dụ minh họa: tỷ lệ nền 45%, sau hai năm còn 35%; giảm tương đối = (45 − 35)/45 × 100 = 22,2%, dưới một phần ba. Kết quả gợi ý đáp ứng chưa đạt, chỉ được phân loại điểm nóng khi các điều kiện về PC, độ bao phủ và khả năng so sánh khảo sát được bảo đảm. Đây không phải số liệu thực địa của bài.

Tại điểm nóng đủ căn cứ, cân nhắc tăng PC lên hai vòng/năm cho cộng đồng đủ điều kiện, đồng thời sửa các nguyên nhân bỏ sót điều trị và tăng cường WASH, truyền thông, giám sát ốc và tiếp xúc nước. Đánh giá lại theo kế hoạch; không chỉ tăng số vòng thuốc khi chất lượng cấp thuốc chưa bảo đảm [3].

10. Đánh giá tác động và thẩm định loại trừ

Đánh giá tác động thường được lập kế hoạch sau khoảng năm năm triển khai PC đạt độ bao phủ cần thiết; một số địa bàn SCH cần đánh giá sớm khi nghi ngờ điểm nóng hoặc có can thiệp tăng cường. Kết quả xác định tần suất tiếp theo và nhu cầu bổ sung biện pháp. Thẩm định là quy trình riêng, không tự động phát sinh từ một khảo sát đạt ngưỡng [1, 4].

Cập nhật STH năm 2026: tại tất cả IU lưu hành, ở trẻ 10 – 14 tuổi, tỷ lệ nhiễm bất kỳ STH <20% và tỷ lệ nhiễm trung bình – nặng <2%; giới hạn trên KTC 95% của chỉ số trung bình – nặng phải <2%. Cần duy trì tiêu chí qua ba năm giám sát trước thẩm định, có bằng chứng chương trình và hồ sơ theo quy trình WHO. Với SCH, tỷ lệ nhiễm nặng <1% là chỉ số EPHP; không ghép thêm “không có ca bản địa ≥5 năm” vào cùng tiêu chí EPHP. Cắt đứt lây truyền và xác minh là mốc riêng [3, 4].

Báo cáo đầy đủ số liệu khảo sát, độ bao phủ và nhu cầu thuốc theo quy trình của chương trình quốc gia và WHO. Không trì hoãn chia sẻ dữ liệu chỉ để chờ công bố khoa học. Hồ sơ phải cho phép kiểm tra dữ liệu theo từng IU và giải thích các khoảng trống.

11. Chỉ số giám sát & đánh giá (M&E) tổng hợp

Nhóm chỉ số Ví dụ chỉ số Mục tiêu/kỳ vọng
Dịch tễ học Tỷ lệ lưu hành MHI (STH) / HI (SCH) Giảm dần; căn cứ đánh giá EPHP
Quy trình Chất lượng & hạn dùng thuốc; phân phối đến điểm tuyến cơ sở Theo tiêu chuẩn thuốc, hạn dùng và kế hoạch cung ứng của chương trình
Hiệu suất Độ bao phủ thuốc (chỉ số quan trọng nhất) ≥75% nhóm nguy cơ mục tiêu mỗi đợt
Hiệu suất Sự tham gia của điểm phân phối Theo kế hoạch triển khai, ghi rõ điểm bỏ sót
Hiệu suất Thuốc chưa sử dụng sau mỗi vòng Theo dõi số lượng và nguyên nhân dư; tránh lãng phí
WASH/vật chủ trung gian Cấp nước, vệ sinh, vệ sinh cá nhân (JMP) Theo mục tiêu và mức dịch vụ; bổ sung chỉ số ốc phù hợp

Thu thập số liệu ngay sau mỗi vòng cấp thuốc; độ bao phủ hiệu quả cần phản ánh số người thực sự uống thuốc trong nhóm đích, không chỉ số viên phát ra. Kiểm chứng độc lập định kỳ khi có thể và phân tích nhóm chưa tiếp cận hoặc từ chối dùng thuốc.

12. Giám sát sau giảm tần suất PC (giai đoạn duy trì)
Sau giảm tần suất hoặc thẩm định, tiếp tục giám sát nguy cơ tăng trở lại bằng hệ thống thường quy và điểm trọng điểm thích hợp. Sự gia tăng tỷ lệ nhiễm phải được đánh giá cùng KTC, mùa khảo sát, kỹ thuật xét nghiệm và cỡ mẫu. Không dùng mức tăng 10 điểm phần trăm như một ngưỡng bắt buộc phổ quát. Khi có tín hiệu, điều tra lại và điều chỉnh can thiệp theo dữ liệu.

13. Khía cạnh đạo đức khi triển khai khảo sát và PC
Khảo sát cần cung cấp thông tin, lấy đồng ý theo quy định và có sự đồng thuận phù hợp với tuổi trẻ em. Người có kết quả dương tính phải được tiếp cận điều trị. Nếu phát hiện tỷ lệ vượt ngưỡng, chương trình cần đánh giá và tổ chức PC cho nhóm đích đủ điều kiện theo hướng dẫn; không tự động cấp thuốc toàn trường chỉ từ một mẫu không đại diện. Theo dõi an toàn và bảo đảm trẻ không đi học cùng các nhóm khó tiếp cận được quan tâm.

Trà Nguyễn Thanh Quan, TS. Giang Hán Minh, TS. Đoàn Bình Minh, ThS. Đỗ Thị Phượng Linh.

 

Tài liệu tham khảo
[1] WHO (2024). Assessing schistosomiasis and soil-transmitted helminthiases control programmes: monitoring and evaluation framework. ISBN 9789240099364. https://www.who.int/publications/i/item/9789240099364
[2] WHO (2017). Guideline: preventive chemotherapy to control soil-transmitted helminth infections in at-risk population groups. ISBN 9789241550116. https://www.who.int/publications-detail-redirect/9789241550116
[3] WHO (2022). WHO guideline on control and elimination of human schistosomiasis. ISBN 9789240041608. https://www.who.int/publications/i/item/9789240041608
[4] WHO (2026). Validation of elimination of soil-transmitted helminthiases as a public health problem in children: criteria and procedure. ISBN 9789240121423. https://www.who.int/publications/i/item/9789240121423
[5] WHO. Soil-transmitted helminth infections. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/soil-transmitted-helminth-infections
[6] WHO. Schistosomiasis. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/schistosomiasis
[7] WHO. Deworming in children. https://www.who.int/tools/elena/interventions/deworming
[8] WHO. Deworming in pregnant women. https://www.who.int/tools/elena/interventions/deworming-pregnancy